Cai Kinh – vị thủ lĩnh người Tày huyện Hữu Lũng

Nếu bạn đã từng đi lại tuyến đường 1A qua xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, bạn sẽ thích thú ngắm nhìn một dãy núi trùng trùng, điệp điệp phía xa xa thật đẹp và hùng vĩ. Bạn sẽ tò mò, tự hỏi đó là dãy núi gì, nếu có cơ hội, bạn sẽ khám phá như thế nào. Vân, đó chính là dãy núi Cai Kinh, nơi lưu giữ tên tuổi một người anh hùng, một tri huyện của nhân dân các dân tộc Hữu Lũng. 

kham-pha-lang-son-day-nui-cai-kinh-huu-lung
Dãy núi Cai Kinh trùng trùng điệp điệp dọc theo quốc lộ 1A địa phận xã Cai Kinh, Hữu Lũng (Ảnh sưu tầm)

Cai Kinh  (? – 1888), tên thật là Hoàng Đình Kinh, ông là một thủ lĩnh người Tày lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp trong vòng 7 năm(1882-1888) ở Lạng Giang vào cuối thế kỷ 19.

Năm sinh của Cai Kinh không rõ. Ông sinh ra và lớn lên tại xóm Ao, thôn làng Thượng, xã Hòa Lạc thuộc tổng Thuốc Sơn, châu Hữu Lũng, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang (nay thuộc xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) trong một gia đình khá giả, cha là Hoàng Đình Khoa làm cai tổng Thuốc Sơn. Sau khi cha mất, ông được thăng làm cai tổng nên có tên gọi là Cai Kinh.

Từ nhỏ, ông đã sớm biểu lộ nghĩa khí, thường bênh vực dân lành. Trong một lần, thổ phỉ nhà Thanh tràn sang cướp bóc, ông đứng ra phản kháng, bị chúng cắt đứt một bên vành tai. Lớn lên, ông tập hợp thanh niên trong vùng tập luyện võ nghệ, tổ chức đánh phỉ bảo vệ dân làng. Do uy tín của mình, ông được dân chúng cử làm cai tổng, nên thường được gọi là Cai Kinh.

Tài liệu sử cho hay, từ nhỏ, ông đã sớm biểu lộ nghĩa khí, thường bênh vực dân lành. Trong một lần, thổ phỉ nhà Thanh tràn sang cướp bóc, ông đứng ra phản kháng, bị chúng cắt đứt một bên vành tai. Lớn lên, ông tập hợp thanh niên trong vùng tập luyện võ nghệ, tổ chức đánh thổ phỉ, bảo vệ dân làng.

Do có công đánh dẹp thổ phỉ, giặc cướp trong vùng, bảo vệ dân cùng với chỉ dụ của triều đình nên sau này, Cai Kinh được thăng làm tri huyện Hữu Lũng.

Sử sách chép lại rằng, năm 1882, ông tham gia cuộc nổi dậy của Cai Vàng chống lại nhà Nguyễn. Sau khi lực lượng bị giải tán, ông sang Vân Nam (Trung Quốc) chiêu tập binh mã, rồi đem bộ hạ về nước cát cứ vùng rặng núi miền thượng du sông Thương, với căn cứ ở núi Đồng Nãi, kiểm soát một vùng rộng lớn ở phủ Lạng Thương.

Ông tổ chức đội quân rất có quy củ nên gây được thanh thế lớn. Bấy giờ, nhà Nguyễn mất hẳn Nam Kỳ vào tay người Pháp và đang hạ mình khi bị Pháp đe dọa ở Bắc Kỳ. Một mặt, triều đình chủ trương tránh cho quân chủ lực giao chiến với quân Pháp; mặt khác, chiêu dụ các đội quân cát cứ tấn công quân Pháp, đặc biệt là quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc, thậm chí cho quân Thanh vào tham chiến. Hậu quả của chính sách tai hại này là triều đình yếu thế về ngoại giao, mất quyền kiểm soát địa phương và làm mất lòng tin của dân chúng.

Bất chấp chủ quyền của Đại Nam, tháng 6/1883, quân Pháp ngang nhiên thực hiện chiến dịch Bắc Kỳ nhằm chống lại các đội quân địa phương của Việt Nam, quân Cờ đen, đội quân Quảng Tây và Vân Nam của nhà Thanh, với mục tiêu chiếm đóng Bắc Kỳ và giữ vững sự bảo hộ của Pháp tại đó. Bấy giờ, Cai Kinh được triều đình chiêu dụ, phong chức tri huyện Hữu Lũng, được tướng nhà Thanh cấp bằng Tán tương quân vụ, thường xuyên hợp quân đánh Pháp.

Tháng 3/1884, sau khi chiếm được thành Bắc Ninh, Pháp đưa một cánh quân định thừa thắng chiếm luôn Lạng Sơn. Khi tiến đến Hữu Lũng thì bị nghĩa quân Cai Kinh phục kích chặn đánh quyết liệt nên phải rút về Bắc Ninh.

Nhằm tránh cuộc xung đột giữa hai bên, quân Pháp và nhà Thanh đã ký kết bản quy ước ngày 11/6 có 5 khoản, trong đó có khoản nhà Thanh phải rút toàn bộ quân khỏi Bắc Kỳ. Nhân cơ hội này, Pháp gây áp lực để ký kết hiệp ước mới với triều đình nhà Nguyễn, gọi là Hòa ước Giáp Thân 1884 vào ngày 6/6/1884 với mục đích phân chia nước ta làm 3 kỳ, nhằm xoa dịu sự căm phẫn của nhân dân, đồng thời cắt đứt mối quan hệ giữa nhà Nguyễn và triều Thanh.

Ngay sau khi Hòa ước được ký, tướng Millot phái Trung tá Dugenne dẫn quân từ phủ Lạng Thương kéo lên tiếp quản các thành Lạng Sơn, Thất Khê và Cao Bằng, do quân Thanh triệt thoái. Ngày 22 tháng 6, đoàn quân Pháp từ đồn Bắc Lệ đến bờ sông Hóa (một nhánh của sông Thương), cách cầu Quan Âm khoảng 8 dặm thì bị chặn lại. Ở phía bên kia cầu, quân Thanh và quân khởi nghĩa người Việt, trong đó có cả quân Cai Kinh, đóng giữ. Giao tranh nổ ra ngày 23 khi quân Pháp cố vượt sông. Đến ngày 26, quân Pháp đành phải mở đường máu rút về Bắc Lệ. Cai Kinh tổ chức cho quân tấn công đồn Bắc Lệ, bắt được bắt được 1 quan hai, 1 quan một và 6, 7 người lính.

Sau trận đánh này, uy thế quân Cai Kinh lên cao. Nhiều cánh nghĩa binh hội quân với ông, trong đó có cánh nghĩa binh của Trương Văn Thám, chính là Hoàng Hoa Thám (tức Đề Thám) sau này.

Năm 1885, quân Pháp theo đường Chũ, Đình Lập đánh chiếm được Lạng Sơn. Tuy nhiên, nghĩa quân Cai Kinh hoạt động ở Lạng Sơn phối hợp với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám ở Bắc Giang làm cho quân Pháp nhiều phen nguy khốn, chậm kế hoạch mở công trường đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn.

Cuối năm 1885, quân Pháp tăng cường đánh chiếm nhiều nơi của tỉnh Lạng Sơn, nghĩa quân Cai Kinh chuyển vào vùng Tam Yên – Hữu Lũng làm căn cứ và xuất quỷ nhập thần đánh địch ở khắp nơi. Suốt 2 năm 1885 – 1886, các tướng của nghĩa quân Cai Kinh là Cai Bình, Cai Hai (em Cai Kinh), Hoàng Quế Thọ (ở Bình Gia), Hoàng Thái Nam và Hoàng Thái Nhân (ở Bắc Sơn)… đã đánh địch liên tục từ phủ Lạng Thương, Mai Sao, Than Muội, Đồng Đăng và đèo Tam Keng (Bắc Sơn)… làm cho quân Pháp mất ăn mất ngủ và tổn thất nặng nề.

Năm 1887, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn vào trung tâm nghĩa quân. Dựa vào địa thế hiểm trở, Cai Kinh đã đánh nhiều trận diệt nhiều sinh lực địch. Quân Pháp đổi chiến thuật, mua chuộc chia rẽ nghĩa quân. Cuối năm 1887, Cai Hai, em ruột Cai Kinh, bị quân phản loạn ám sát.Quân Pháp cho đào mồ mả nhà Cai Kinh ném xuống sông Hóa làm cho Cai Kinh căm phẫn và đau buồn cực độ.

Không khuất phục được Cai Kinh bằng vũ lực, thực dân Pháp hèn hạ dùng thủ đoạn mua chuộc, chia rẽ hàng ngũ nghĩa quân, cài người vào nghĩa quân làm phản. Tổng Côn vốn có tư thù với Hoàng Đình Kinh, lại ham tiền của, đã cấu kết với Pháp thực hiện âm mưu hèn hạ này. Nghĩa quân Cai Kinh bị nội gián chỉ đường liên tục bị đánh úp hao tổn nặng nề và dần dần tan rã. Tên Linh Thành một trong tướng lĩnh của Cai Kinh, cầm đầu nhóm phản loạn đóng giả quân Pháp đánh vào dinh của Cai Kinh. Cai Kinh sau đó được thủ hạ tâm phúc Đề Dã dẫn lên ẩn náu tại Hang Dơi. Chiếm được bản doanh Linh Thành bắt giữ vợ con Cai Kinh, bắt Đề Dã dẫn đi tìm Hoàng Đình Kinh nhưng ông không chịu, chúng chặt đầu Đề Dã đem nộp cho Pháp lãnh thưởng. Quân Pháp biết Cai Kinh chưa chết liền xét hỏi Linh Thành chỗ ẩn náu của Cai Kinh và bắn chết hắn. Cai Kinh phải liên tục chạy trốn khỏi sự truy lùng đến tận các làng trong vùng núi Chi Lăng-Bắc Sơn tìm cách gây dựng lại lực lượng kháng Pháp.

Tuy nhiên, tháng 6, Phó lãnh binh Nam triều là Phạm Văn Khoa đem quân vây bắt được Cai Kinh ở thôn Bản Thí, gần biên giới Việt-Trung và nộp cho quân Pháp. Cai Kinh bị hành quyết vào ngày 6 tháng 7 năm 1888 theo lệnh của Phó Công sứ Pháp ở Lạng Sơn. Cuộc khởi nghĩa đến đây gần như chấm dứt hoàn toàn.

Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh bị thất bại, nhưng tinh thần chiến đấu ngoan cường của ông và nghĩa quân đã khiến cho giặc Pháp phải khuất phục. Nhân dân các dân tộc trong vùng vô cùng cảm phục và thương tiếc ông. Sau khi ông mất, người dân địa phương đã gọi tên dãy núi trùng điệp phía bắc Bắc Lệ dọc ven theo quốc lộ 1A từ Hữu Lũng tới Chi Lăng ăn sâu vào Bằng Mạc giáp Bắc Sơn, Bình Gia là”dãy núi Cai Kinh” và Tổng Thuốc Sơn quê hương ông cũng được gọi là xã Cai Kinh. Ngoài ra,tên ông được đặt cho nhiều đường phố tại tỉnh Lạng Sơn. Tên tuổi và sự nghiệp của Hoàng Đình Kinh từ đó đến nay trở thành bất tử, là tượng đài sống mãi trong lòng nhân dân xứ Lạng.

Nếu bạn đi qua khu vực huyện Hữu Lũng, hãy ngắm nhìn dãy núi hùng vĩ đó và tự hào về người anh hùng Cai Kinh nhé.

Khám phá Lạng Sơn

Tôi là người con sinh ra, lớn lên trên mảnh đất biên giới Lạng Sơn. Tôi muốn chia sẻ với tất cả các bạn về con người, văn hóa Lạng Sơn, khám phá Lạng Sơn và viết mọi thứ về Lạng Sơn. Rất mong nhận được góp ý, chia sẻ của mọi người. Email: khamphalangson@gmail.com.