Góp phần tìm hiểu và giải nghĩa tên gọi Lạng Sơn

Tên gọi Lạng Sơn đã có từ rất sớm trong lịch sử với tên gọi ban đầu là lộ Lạng Sơn rồi đến năm 1831 chính thức đổi thành tỉnh Lạng Sơn. Trong không khí vui mừng chuẩn bị kỷ niệm 182 năm thành lập tỉnh chúng tôi xin được viết một bài nghiên cứu tìm hiểu và giải nghĩa tên gọi Lạng Sơn.

  1. Xuất xứ tên gọi Lạng Sơn[1].

Thời Hùng Vương, vùng đất này có tên gọi là Lục Hải[2] (tức Lục Châu, tên châu thời Đường, miền Quảng Ninh ngày nay)[3], trải qua bao biến cố lịch sử, tên gọi cũng thay đổi theo thời gian.

Góp phần tìm hiểu và giải nghĩa tên gọi Lạng Sơn
Bản đồ Lạng Sơn ngày nay

Tên gọi Lạng Sơn xuất hiện khá sớm trong lịch sử, cụ thể đến thời Đinh – tiền Lê trở đi thì trên bản đồ đã thấy ghi Lạng Sơn[5].

Đến cuối đời Trần, sử có chép ghi lại tên gọi Lạng Sơn là lộ Lạng Sơn[6] còn tài liệu Trung Quốc chép thời thuộc Minh có trấn Lạng Sơn[7].

Đến đời Lê – Nguyễn, đất nước được chia làm các đạo thừa tuyên. Lạng Sơn có 1 phủ, 6 châu[8].

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) chính thức có tên gọi tỉnh Lạng Sơn[9].

  1. Nghĩa của từ Lạng Sơn.
    • 1. Nghĩa của từ Lạng Sơn.

Có rất nhiều người bàn về nghĩa của tên gọi Lạng Sơn, theo PGS Lê Văn Lan từng nói nhân dịp kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh Lạng Sơn (1831 – 2011) thì tên gọi Lạng Sơn nghĩa là vùng đất ở trên cao sáng láng.

Qua tìm hiểu và nghiên cứu chúng tôi xin được phân tích tên gọi Lạng Sơn theo nhiều cách khác nhau để tìm ra một cách hiểu phù hợp nhất với hai chữ “Lạng Sơn”.

Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì Lạng có những cách giải thích sau:

  • – Lạng: “Nghiêng sang một bên, mất thăng bằng trong giây lát[10]. Điều này có vẻ không hợp lý vì thế đất Lạng Sơn luôn đứng vững vàng bất chấp sóng gió ngoại xâm.
  • – Lạng trong “Làng, làng lạc, làng nước, làng xóm[11] (lạng có thể được biến đổi và gọi thành lạng để thuận tiện khi gọi): Tất cả đều dùng để mô tả về đời sống dân cư gắn với mô hình làng xóm, nông thôn. Điều này không thể phù hợp vì đô thị đã xuất hiện ở Lạng Sơn khá sớm với trung tâm thương mại Kỳ Lừa xuất hiện từ khi “Thân Công Tài làm chức Tả Đô Đốc và có công mở mang buôn bán và mở chợ[12].
  • – Có thể từ lạng được lấy trong cụm từ “Sáng láng”. Sáng láng ở đây là nơi “Có nhiều ánh sáng, rất sáng[13] hay trong từ “Sáng loáng” nghĩa là “Sáng lấp lánh trên khắp bề mặt[14] (có thể từ láng hay loáng đã được gọi đổi thành lạng để thuận tiện khi gọi). Như vậy cách giải thích là hợp lý với từ Lạng trong Lạng Sơn.

Cũng theo từ điển tiếng Việt thì từ Sơn (山) ngoài nghĩa là núi ra thì từ Sơn còn được hiểu và giải thích theo những nghĩa khác nhau, cụ thể:

  • – Sơn trong “Sơn cốc” nghĩa là “Chỗ đất bằng ăn sâu vào núi[15]. Cách giải thích này cũng có thể chấp nhận được vì mảnh đất Lạng Sơn vốn là vùng lòng chảo nằm ở thung lũng và chạy dọc bên bờ dòng sông Kỳ Cùng.
  • – Sơn trong “Sơn cùng tận thủy” dùng để tả “Nơi xa xôi, được coi là nơi tận cùng của đất nước[16]. Cách giải thích này cũng có thể chấp nhận vì Lạng Sơn vốn là mảnh đất địa đầu là phiên dậu của tổ quốc Việt Nam.
  • – Sơn trong “Sơn cước” dùng để nói nơi “Chân núi, miền sơn cước[17] hay là “Miền núi nói chung[18]. Điều này cũng có thể chấp nhận vì ở Lạng Sơn địa hình núi chiếm chủ yếu.
  • – Sơn trong “Sơn dã” chỉ nơi “Rừng núi hoặc đồng ruộng, chỉ quan hệ đối lập với nơi thành thị, cảnh sơn dã[19]. Điều này có lẽ chưa hẳn đúng bởi lẽ người dân nơi đây vẫn lưu truyền câu ca dao “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh” trong cau ca dao ta thấy hình ảnh phố Kỳ Lừa xất hiện.
  • – Sơn trong “Sơn hà” nghĩa là “Núi sông, đất nước, dải sơn hà, nhất thống sơn hà[20]. Vua Minh Mệnh đặt tên Lạng Sơn có lẽ nhằm khẳng định Lạng Sơn là một dải sơn hà của Đại Việt thống nhất.
  • – Sơn trong “Sơn thủy” nghĩa là “Núi và nước, chỉ cảnh đẹp thiên nhiên, cảnh sơn thủy hữu tình[21]. Điều này từng được vua Khải Định khen ngợi nhân một chuyến vua xa giá ra Bắc Kỳ ngắm phong cảnh “Trời bày thắng cảnh khách ngao du / Non nước kỳ quan một động thu..[22].

Như vậy chúng ta có thể hiểu từ Lạng nghĩa là mảnh đất cao, sáng láng với ánh sáng trải khắp bề mặt. Còn Sơn nghĩa là núi, là mảnh đất xa xôi nơi chốn biên thùy, là dải sơn hà, là nơi cảnh đẹp, nơi vừa có sông vừa có núi hài hòa…

  1. Kết luận.

Tỉnh Lạng Sơn thành lập chính thức năm 1831 (thế kỷ XIX) dưới thời vua Minh Mệnh. Đến nay tỉnh Lạng Sơn đã trải qua 182 năm lịch sử hình thành và phát triển.

Trên cơ sở tìm hiểu, định nghĩa và phân tích những ý nghĩa của tên gọi Lạng Sơn sẽ giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về cái tên gọi và vùng đất lịch sử có tên gọi Lạng Sơn.

 

nguồn: lyviettruongls.blogspot.com

Tài liệu tham khảo:

  1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2005.
  2. Hoàng Giáp – Hoàng Páo, Văn hóa Lạng Sơn, Địa dư chí – Văn bia – Câu đối, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2012.
  3. Mã Thế Vinh, Lạng Sơn vùng đất của Chi Lăng – Đồng Đăng – Kỳ Lừa, Nxb Trẻ, 2012.

[1] Vị trí địa lý.

Lạng Sơn có diện tích 8.320,2 km2 (năm 2011) số dân là 741.200 người (năm 2011), mật độ 89 người/km2.
Gồm 1 thành phố và 10 huyện, 226 đơn vị hành chính cấp xã, 207 xã, 5 phường và 14 thị trấn.

Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng: 55 km, Phía đông bắc giáp Sùng Tả (Quảng Tây,Trung Quốc): 253 km, Phía nam giáp tỉnh Bắc Giang: 148 km, Phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh: 48 km, Phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn: 73 km, Phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên: 60 km.

[2] Mã Thế Vinh, Lạng Sơn vùng đất của Chi Lăng – Đồng Đăng – Kỳ Lừa, Nxb Trẻ, 2012, Tr.8.
[3] Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005, Tr.19.
[4] Đào Duy Anh, sdd, Tr.118
[5] Đào Duy Anh, sdd, Tr. 118, Tr. 124 – 125.
[6] Đào Duy Anh, sddt, Tr. 127.
[7] Đào Duy Anh, sdd, Tr. 130. Tr. 150 – 154.
[8] Đào Duy Anh, sdd, Tr.172.
[9] Đào Duy Anh, sdd, Tr.219.
[10] Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2000, Tr.1163.
[11] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr. 542 – 543.
[12] Hoàng Giáp – Hoàng Páo, Văn hóa Lạng Sơn, Địa dư chí – Văn bia – Câu đối, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2012, Tr.197.
[13] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.847.
[14] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.847.
[15] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[16] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[17] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[18] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[19] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[20] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[21] Viện ngôn ngữ học, sdd, Tr.871.
[22] Hoàng Giáp, Hoàng Páo, sdd, Tr.267.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.