Tìm hiểu nghi lễ “hát khoăn” (giải hạn) của Then Tày Đình Lập?

Nghi lễ Then của người Tày huyện Đình Lập thường diễn ra các dạng thức khác nhau như: Then chúc tụng, lẩu then, then cấp sắc, then giải hạn… Mặc dù đã có vài dịp được tham dự nghi lễ then của người Tày nhưng thực sự tôi vẫn chưa hiểu lắm về tiến trình một nghi lễ được thực hiện như thế nào, đặc biệt trình tự một buổi then giải hạn.

Tình cờ đọc tác phẩm Nghi lễ then giải hạn của tác giả Nguyễn Thị Hoa giới thiệu tương đối đầy đủ về trình tự một buổi then “hắt khoăn” – giải hạn, tôi thực sự thích thú về nét văn hóa này, xin được chia sẻ cùng các bạn:

Trình tự của buổi lễ “hắt khoăn” (giải hạn) của người Tày ở huyện Đình Lập gồm có 15 chương. Buổi sáng, bà then hát 05 chương. Từ buổi chiều đến tối, bà then hát 10 chương. Trong nghi lễ then giải hạn còn có 2 người do gia chủ mời đến phụ giúp xóc nhạc, thắp hương, đốt vàng mã để bà then tập trung vào diễn xướng đàn hát.

– Chương thứ nhất: Trình tổ

Đầu tiên, bà then trình báo với tổ tiên, thánh thần gia chủ về chức danh, lý do của buổi lễ (tâu trình cụ thể: họ tên, ngôi thứ từng người trong gia đình, địa điểm, thời gian xin giải hạn).

Tiếp đến, bà then báo những lễ xin giải hạn và nói rõ lý do: Đi trả lễ cho bà mụ.

– Chương thứ hai: Gọi hương

Để lên được thiên đình đến cửa Mẻ Bjoóc, đoàn then phải qua rất nhiều chặng: cửa Thổ Công, rừng Ve sầu, đi bắt Hươu Nai, đoạt gậy Ma Vương… Khi đi qua các cửa, then cần đến cây hương để tâu xin bẩm báo lý do của hành trình. Lúc này, bà then dạo một khúc đàn tính có tính chất tâu bày, nài nỉ.

– Chương thứ ba: Cho phu (gọi phu)

Sau khi sắm sửa lễ vật xong, then chiêu binh mãi mã thành một đội quân là các phu để gánh gồng, chuyên chở các lễ vật lên thiên đình xin giải hạn.

– Chương thứ tư: Chép lệ (chép mâm)

Đoạn then này là để điểm tên các lễ vật đưa lên công tiễn thánh thần. Lễ gồm 2 phần:

+ Lễ chay: Hương hoa, bánh trái, vàng bạc, kim ngân… những lễ vật này cống ở cửa Mẻ Bjoóc.

+ Lễ sát sinh: Gà vịt sống, miếng thịt, chén rượu… để tống tiễn những hồn ma quỷ lang thang.

– Chương thứ năm: Pây mạ (đi ngựa)

Đoạn này mô tả hành trình đi xa, then phải dùng binh, dùng ngựa để lên tới thiên đình, thể hiện tiếng xóc nhạc rộn ràng, giục giã rất gấp gáp. Điều đặc biệt là trong đoạn then này, bà then còn thổi còi như hiệu lệnh hối thúc ngựa đi cho nhanh.

– Chương thứ sáu: Khảu Thổ Công (vào Thổ Công)

Sau khi dời nhà đi đến thế giới vô hình, bà then khấn thần Thổ Công. Theo quan niệm của Then, người trần mắt thịt không biết đường lên trời du ngoạn mà chỉ có Mo, Then mới biết đường đi. Vì vậy, bà then phải xin phép Thổ Công mở cửa để đoàn quân then đi giải hạn và báo tất cả những lễ vật đã làm.

– Chương thứ bảy: Khái pắt ngoàng (bắt “ve sầu”)

Đoạn này mô tả cảnh đoàn quân then đang mệt mỏi lại phải nghe tiếng ve sầu kêu thì càng thêm rã rời, mệt mỏi.  Tiếng đàn, tiếng hát nghe ai oán, xót thương cho số phận con người, đồng thời phản ánh nỗi vất vả, cực nhọc của then trên chặng đường tới cõi siêu hình.

– Chương thứ tám: Khái thấu nạn quang (bắt hươu nai)

Đây là đoạn then miêu tả cảnh quân then vây bủa, săn bắt hươu nai để làm lễ tạ thiên đình.

– Chương thứ chín: Khái khau khắc (vượt núi cao)

Đoạn này thể hiện cao trào quyết tâm của đoàn quân then. Muốn đưa được lễ vật lên Mường Trời, đoàn quân then phải vượt qua dốc núi cao chót vót với nhiều khó khăn. Ai cũng mệt mỏi nhưng không được nghỉ ngơi mà phải đưa lễ đi giải hạn ngay.

– Chương thứ mười: Khái Già Gìn (đánh nhau với Dả Dỉn)

Theo truyền thuyết, Dả Dỉn là người giữ gậy ma vương có hai đầu sinh tử và then phải đoạt gậy ma vương để trị phép thuật của ma quỷ giúp người thế gian.

– Chương thứ mười một: Khái lọng sluông (gọi sluông)

Đoàn quân then vượt qua rừng rậm có yêu ma, chước quỷ nhưng con đường từ hạ  giới lên trời còn vượt biển cả đầy rẫy nguy hiểm. Do đó, then phải gọi thêm người chèo đò. Đoạn này có những lời hát then phản ánh nỗi cực nhọc, gian khó mà người phu chèo đò đã trải qua, đồng thời nói lên tình cảm vợ chồng chung thủy, khăng khít.

– Chương thứ mười hai: Tu hạn (cửa xung, cửa hạn)

Theo quan niệm, Nam Tào – Bắc Đẩu được Ngọc Hoàng giao trấn giữ cửa xung, cửa hạn và quy định việc sinh tử của con người. Do đó, trong lễ “hắt khoăn”, mọi lễ vật phải cống nạp ở cửa đó và then cầu mong quan xung ban phước lành, cầu mong quan hạn giải mọi oan trái cho gia chủ.

– Chương thứ mười ba: Khảu Mẻ Bjoóc (cửa Hoa Vương Thánh Mẫu)

Đây là đoạn then rất quan trọng trong buổi nghi lễ này. Then Tày Đình Lập quan niệm rằng có 36 bà mụ (bà mụ Tày, bà mụ Kinh, bà mụ Nùng, bà mụ Hoa…). Nếu cái hạn đó do bà mụ nào sinh ra thì bà then sẽ hát bằng thứ tiếng của dân tộc đó. Khi làm lễ, bà then tung đôi xính cảo xin âm dương, nếu xin xấp được cả đôi xấp hoặc xin ngửa  được cả đôi ngửa thì coi như bà mụ đó đã nhận lễ rồi thắp hương đi tiếp.

– Chương thứ mười bốn: Lập cầu khoăn (bắc cầu số phận)

Khi quan sát buổi nghi lễ, người tham dự sẽ thấy bà then chuẩn bị thủ tục bắc cầu như sau:

+ Mâm đón vía: Gồm một con gà chưa luộc, bát gạo, ba cái bánh, quả trứng, hình nhân (thế mạng chuộc đổi vía) và 12 chén rượu (tượng trưng cho 12 con giáp)

+ Bắc cầu: Là mảnh giấy trắng dài từ 15 cm đến 17 cm, nối từ mâm khoăn xuống mâm đón vía. Việc làm đó có ý nghĩa: “Cây cầu số phận” sẽ giúp đoàn quân then đưa được “vía” trở về.

– Chương thứ mười lăm: Slống slửa tẳng khoăn (đưa áo đón vía)

Khi đã tìm được vía, quân then nhanh chóng qua cầu trở về. Đây là đoạn kết thúc trình tự then “hắt khoăn”, tiếng nhạc xóc theo điệu “pây mạ” (đi ngựa) như giục người, giục ngựa gấp gấp đưa vía trở về hạ giới.

Kết thúc buổi lễ, gia chủ mang gạo, tiền, một nửa mâm cỗ cúng và con gà nhỏ trả lễ cho bà then.

Như vậy, qua đọc những phân tích của tác giả Nguyễn Thị Hoa về nghi lễ “hắt khoăn” người Tày huyện Đình Lập sẽ giúp những ai chưa từng dự buổi nghi lễ “hắt khoăn” hiểu rành mạch hơn loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng này. Chân thành cảm ơn tác giả Nguyễn Thị Hoa.